HÀ NỘI, MÙA THƯƠNG CŨ
Ngày đăng: 26-05-2026
93 lượt xem
HÀ NỘI, MÙA THƯƠNG CŨ
Truyện ngắn – Hoàng Thanh
Có những cuộc tình đi qua đời người nhẹ như mưa bụi tháng Mười Hà Nội. Khi còn ở trong đó, người ta tưởng chỉ là một đoạn ký ức rất ngắn của tuổi trẻ. Nhưng đến khi bước qua rồi mới hiểu, hóa ra có những người sẽ ở lại trong tim mình lâu hơn cả một đời. Khánh gặp Ngọc vào cuối mùa thu năm hai đại học. Chiều hôm ấy Hà Nội có mưa. Cơn mưa không lớn, chỉ lất phất bay qua những con phố cũ, phủ lên thành phố một màu xám rất buồn. Trạm xe buýt trước cổng Đại học Sư phạm Hà Nội đông kín người trú mưa. Khánh đứng nép ở góc ngoài cùng, chiếc balo cũ sẫm màu nước đeo lệch trên vai, tay ôm tập giáo trình vừa photo từ tiệm sách cũ gần Đại học Bách Khoa Hà Nội.
Anh vừa kết thúc buổi thực hành kéo dài tới tối muộn. Gương mặt mệt mỏi, đôi mắt thâm quầng vì nhiều đêm thiếu ngủ. Rồi cô chạy vào trú mưa cạnh anh. Mái tóc dài hơi ướt, vài sợi dính trên gò má trắng xanh vì lạnh. Cô khẽ phủi nước trên tay áo len màu kem rồi nhìn logo Bách Khoa trên ngực áo anh.
- Anh học Bách Khoa à?
Khánh ngẩng lên.
- Ừ… sao em biết?
Cô cười.
Nụ cười nhẹ như gió mùa đầu đông.
- Vì nhìn anh giống kiểu người nhiều đêm không ngủ.
Khánh bật cười theo. Một nụ cười rất khẽ giữa buổi chiều mưa lạnh. Sau này anh mới hiểu, có những cuộc gặp gỡ bắt đầu bình thường đến mức người ta không hề biết rằng nó sẽ trở thành một phần sâu nhất trong ký ức mình.
Khánh sinh ra ở một vùng quê ven sông Luộc ở Thái Bình. Bố anh làm nghề đan chiếu, sau này chuyển sang bán chiếu dạo. Mẹ làm cán bộ hợp tác xã. Tuổi thơ của Khánh gắn với tiếng thoi dệt chiếu, với những buổi trưa hè nằm nghe tiếng quạt cũ quay lạch cạch và những chiều đạp xe trên con đường đất phủ đầy bụi.
Ngày nhận giấy báo đỗ Đại học Bách Khoa Hà Nội, mẹ anh khóc rất lâu. Còn bố chỉ ngồi im ngoài sân hút thuốc.
Mãi sau ông mới nói:
- Ráng học thành người. Khánh hiểu phía sau câu nói ngắn ngủi ấy là cả một đời hy vọng của cha mẹ gửi gắm vào mình. Vậy nên suốt những năm đại học, anh gần như chưa từng cho phép bản thân sống nhẹ nhõm.
Ban ngày đi học. Tối làm thêm ở quán bia gần trường. Cuối tuần nhận làm gia sư kiếm tiền trọ. Có những tháng cuối kỳ, anh sống bằng bánh mì không để tiết kiệm từng đồng.
Còn Ngọc khác anh hoàn toàn. Cô là sinh viên khoa Văn của Đại học Sư phạm Hà Nội. Ở cô luôn có một vẻ dịu dàng khiến người khác vô thức muốn nói chuyện nhẹ hơn khi đứng cạnh. Ngọc thích đọc sách. Thích mùi giấy cũ trong thư viện. Thích ngồi nhìn mưa hàng giờ mà không chán.
Sau buổi trú mưa hôm ấy, họ bắt đầu làm quen với nhau. Ban đầu chỉ là đi uống caffe nói chuyện vài câu hỏi thăm vu vơ.
“Anh ăn cơm chưa?”
“Hôm nay em thi thế nào?”
“Bách Khoa có nhiều bài tập lắm hả anh?”
Rồi từ lúc nào không biết, Khánh bắt đầu lấy cớ chạy ngang qua trường cô mỗi chiều. Từ Bách Khoa sang Sư phạm vốn chẳng thuận đường. Nhưng người trẻ khi yêu thường thích làm những điều vô nghĩa mà chính họ cũng không giải thích được. Chiếc đạp cũ màu xanh của anh quen dần với con phố Nguyễn Trãi giờ tan tầm đông nghịt người. Chiều nào Ngọc bước ra khỏi cổng trường cũng nhìn thấy anh đứng đợi dưới hàng cây, tay cầm ly trà đá đã tan gần hết đá lạnh.
- Đợi lâu chưa anh?
- Anh mới tới.
Thật ra anh thường đứng đợi gần nửa tiếng. Nhưng chưa bao giờ nói. Tình yêu thời sinh viên của họ giản dị đến mức nhiều năm sau nhớ lại, Khánh vẫn thấy lòng mình mềm đi. Những buổi hẹn hò chỉ là quán trà đá ven hồ Tây, một gói hướng dương và vài câu chuyện không đầu không cuối.
Có hôm cuối tháng, trong túi Khánh chỉ còn vài chục nghìn.
Anh ngại ngùng bảo:
- Hay hôm nay mình ăn bánh mì nhé?
Ngọc cười rất tươi:
- Em thích mà. Hai đứa ngồi trong căn phòng trọ chưa đầy mười mét vuông của anh, chia nhau nồi mì nghi ngút khói.
Ngoài trời mưa lộp bộp trên mái tôn.
Ngọc chống cằm nhìn anh:
- Sau này già đi chắc em sẽ nhớ mấy ngày như thế này lắm.
Khánh bật cười:
- Nghèo vậy mà cũng nhớ hả?
Ngọc gật đầu.
- Vì lúc này anh thương em nhiều nhất.
Khánh im lặng.
Một lúc lâu mới khẽ nói:
- Sau này anh vẫn thương em mà.
Ngọc nhìn anh rất lâu. Ánh mắt cô khi ấy trong veo như mặt hồ mùa thu. Có những điều khi còn trẻ người ta tin là thật suốt đời. Chỉ đến nhiều năm sau mới hiểu, tình yêu đôi khi không mất đi vì hết thương, mà vì cuộc sống đã khiến con người ta đổi khác.
Mùa đông năm ấy Hà Nội lạnh cắt da. Ngọc thường ngồi trong thư viện đợi Khánh làm đồ án tới khuya. Anh cặm cụi trước màn hình máy tính. Cô ngồi bên cạnh soạn giáo án thực tập. Hai người chẳng nói gì nhiều. Nhưng chỉ cần ngẩng đầu lên vẫn thấy người kia ở đó.
Đó là thứ hạnh phúc rất nhỏ của tuổi trẻ. Nhỏ đến mức khi đang có, người ta thường không biết mình may mắn đến nhường nào. Đêm nọ, lúc đưa Ngọc về ký túc xá, gió lạnh tràn qua từng con phố. Khánh tháo khăn quàng cổ của mình quấn cho cô.
Ngọc giữ tay anh lại:
- Còn anh thì sao?
Anh cười:
- Anh quen lạnh rồi.
Ngọc không biết rằng từ ngày yêu cô, anh bắt đầu sợ cô buồn hơn sợ chính mình cực khổ.
Có lần hai đứa ngồi trên cầu Long Biên đến tận khuya.
Dưới chân cầu, sông Hồng lặng lẽ chảy giữa màn sương mỏng.
Ngọc tựa đầu lên vai anh rồi hỏi:
- Sau này tụi mình có cưới nhau không anh?
Khánh im lặng rất lâu. Không phải vì không muốn. Mà vì sợ. Sợ mình chưa đủ giỏi để cho cô một tương lai tốt đẹp.
Rồi anh vẫn khẽ đáp:
- Có chứ.
Ngọc cười. Nụ cười hôm ấy đẹp đến mức nhiều năm sau mỗi lần nhớ lại, lòng anh vẫn đau âm ỉ. Rồi họ tốt nghiệp. Cuộc sống bắt đầu kéo cả hai về những phía khác nhau. Khánh được nhận vào một công ty công nghệ lớn. Ngày đầu tiên đi làm, anh đứng rất lâu dưới tòa nhà kính cao vút giữa trung tâm Hà Nội. Anh từng nghĩ chỉ cần cố gắng thêm chút nữa thôi, tương lai của cả hai sẽ tốt đẹp hơn.
Anh muốn mua nhà.
Muốn cưới Ngọc.
Muốn cho cô một cuộc sống đủ đầy.
Vậy nên anh lao vào công việc như một kẻ liều mạng. Sáng đi từ sớm. Đêm về khi phố đã ngủ. Những cuộc họp nối tiếp nhau. Những dự án kéo dài bất tận. Điện thoại lúc nào cũng đầy email công việc. Còn Ngọc trở thành giáo viên cấp ba ở một trường ngoại thành. Công việc của cô nhẹ nhàng hơn anh, nhưng lại nhiều khoảng trống hơn.
Khoảng trống để nhớ. Để chờ. Và để buồn. Có những tối cô đứng trước cổng công ty anh gần cả tiếng đồng hồ chỉ để gặp anh vài phút rồi lại lặng lẽ bắt xe về. Nhưng cô chưa từng trách. Vì cô hiểu anh đang cố gắng cho tương lai của họ. Chỉ là cô không biết có những thứ mất đi rất chậm. Chậm đến mức người ta không nhận ra cho tới khi mọi thứ đã quá muộn.
Một tối trời mưa rất lớn. Ngọc đứng dưới mái hiên trước công ty anh, tay ôm chiếc bánh kem nhỏ. Hôm ấy là sinh nhật Khánh. Cô muốn tạo cho anh một bất ngờ. Nhưng khi anh bước ra khỏi tòa nhà với gương mặt mệt mỏi và chiếc điện thoại vẫn sáng đèn vì công việc, Ngọc bỗng thấy khoảng cách giữa hai người xa đến lạ.
Khánh giật mình:
- Sao em không gọi anh?
Ngọc cười rất nhẹ:
- Em sợ làm phiền anh.
Câu nói ấy khiến tim Khánh nhói lên. Nhưng rồi anh vẫn chỉ im lặng. Anh không biết rằng có những tổn thương bắt đầu từ chính sự im lặng ấy. Khi một người con gái yêu quá lâu trong cô đơn, họ sẽ dần học cách giấu đi cảm xúc của mình. Và đến một lúc nào đó, họ cũng chẳng còn muốn nói nữa.
Khoảng cách giữa họ lớn dần theo năm tháng.
Tin nhắn ít hơn. Những cuộc gọi ngắn hơn. Có những tối ngồi cạnh nhau trong quán cà phê cũ, cả hai đều không biết phải nói gì.
Khánh mệt mỏi với công việc. Còn Ngọc mệt mỏi vì cảm giác mình đang dần biến mất trong cuộc đời anh.
Một lần cô hỏi:
- Anh còn thấy vui khi ở cạnh em không?
Khánh im lặng rất lâu. Sự im lặng ấy khiến mắt cô buồn đi. Thật ra anh vẫn yêu cô. Rất yêu. Chỉ là cuộc sống đã bào mòn anh đến mức chẳng còn đủ sức dịu dàng như trước nữa. Họ chia tay vào một chiều cuối đông. Quán cà phê cũ vẫn bật bản nhạc năm nào. Ngoài cửa kính, mưa phùn giăng kín phố. Ngọc ngồi đối diện anh, gầy hơn trước rất nhiều. Khánh muốn nói điều gì đó. Muốn giữ cô lại. Muốn ôm cô như những ngày còn là sinh viên nghèo chạy xe giữa đêm lạnh. Nhưng cuối cùng lại bất lực ngồi im.
Ngọc hỏi rất khẽ:
- Anh còn thương em không?
Khánh cúi đầu.
Rất lâu sau mới đáp:
- Có.
Chỉ một chữ thôi cũng đủ khiến mắt cô đỏ hoe. Bởi điều đau lòng nhất không phải là không còn yêu. Mà là vẫn còn thương nhau rất nhiều nhưng không thể tiếp tục nữa. Sau hôm ấy, Ngọc rời khỏi cuộc đời anh như một mùa mưa cũ.
Không ồn ào. Không trách móc. Chỉ lặng lẽ biến mất.
Khánh lao vào công việc nhiều hơn. Anh có mức lương mà ngày còn sinh viên chưa từng dám nghĩ tới. Có căn hộ riêng giữa Hà Nội rộng lớn. Nhưng càng trưởng thành, anh càng thấy lòng mình trống trải. Có những đêm đi ngang hồ Tây, anh lại nhớ Ngọc đến nghẹn lòng. Nhớ cô gái từng ngồi ăn mì tôm với anh những ngày cuối tháng. Từng ôm eo anh trên chiếc xe cũ giữa phố mùa đông. Từng đứng dưới mưa chờ anh chỉ để gặp vài phút ngắn ngủi. Anh nhận ra mình đã đánh mất điều quý giá nhất của tuổi trẻ. Không phải vì hết yêu. Mà vì mải mê chạy theo tương lai đến mức quên mất người con gái ấy chỉ cần hiện tại có anh bên cạnh.
Nhiều năm sau, Khánh vẫn sống ở Hà Nội.
Vẫn đi ngang qua Đại học Bách Khoa Hà Nội mỗi sáng.
Thỉnh thoảng anh lại chạy xe qua con đường gần Đại học Sư phạm Hà Nội. Hàng cây vẫn còn đó. Những cô gái trẻ vẫn ôm giáo trình bước vội dưới tán lá. Chỉ là người anh từng chờ năm ấy không còn đứng nơi ấy nữa. Người ta rồi cũng trưởng thành. Rồi cũng học cách sống cùng những điều dang dở.
Nhưng có những người, dù đã rời xa rất lâu, vẫn nằm lại trong ký ức như một mùa cũ không thể gọi tên. Ngọc từng thương anh bằng tất cả dịu dàng của tuổi trẻ. Còn anh, chàng trai Bách Khoa nghèo đến mức không mua nổi món quà tử tế cho người mình yêu, lại từng dành cho cô tất cả chân thành mà mình có. Và có lẽ trong suốt cuộc đời này, sẽ không còn ai yêu nhau trong veo như những năm tháng ấy nữa.
HÀ NỘI, MÙA THƯƠNG CŨ
Truyện ngắn – Hoàng Thanh
Có những cuộc tình đi qua đời người nhẹ như mưa bụi tháng Mười của Hà Nội. Khi còn ở trong đó, người ta cứ nghĩ chỉ là một đoạn ký ức rất ngắn của tuổi trẻ. Nhưng đến lúc bước qua rồi mới hiểu, có những người sẽ ở lại trong tim mình lâu hơn cả một đời. Nhiều năm sau, mỗi lần đi ngang qua con đường Nguyễn Du mùa hoa sữa nở, Khánh vẫn có cảm giác như mình vừa đánh rơi điều gì đó rất quan trọng giữa cuộc đời này.
Mùi hương ấy luôn khiến anh nhớ đến Ngọc. Nhớ cô gái từng đứng trú mưa cạnh anh ở một trạm xe buýt cũ. Nhớ những ngày cả hai còn nghèo đến mức chia nhau nửa cái bánh mỳ cuối tháng. Và nhớ cả bài thơ đầu tiên khiến một cô gái khoa Văn đem lòng yêu một chàng trai học ngành Tự động hóa và Thiết bị điện của Đại học Bách Khoa Hà Nội.
Khánh gặp Ngọc vào cuối mùa thu năm hai đại học. Chiều hôm ấy Hà Nội có mưa. Cơn mưa không lớn, chỉ lất phất bay qua những con phố cũ, phủ lên thành phố một màu xám dịu buồn. Trạm xe buýt trước cổng Đại học Sư phạm Hà Nội đông kín người trú mưa. Khánh đứng nép ở góc ngoài cùng, chiếc balo cũ sẫm màu nước đeo lệch trên vai, tay ôm xấp giáo trình vừa photo từ tiệm sách cũ gần trường. Anh vừa kết thúc buổi thực hành kéo dài tới tối muộn. Gương mặt mệt mỏi, đôi mắt thâm quầng vì nhiều đêm thức trắng trong phòng thí nghiệm.
Rồi cô chạy vào trú mưa cạnh anh. Mái tóc dài hơi ướt, vài sợi dính lên gò má trắng xanh vì lạnh. Cô khẽ phủi nước trên tay áo len màu kem rồi nhìn logo Bách Khoa trên ngực áo anh.
Khánh ngẩng lên.
Cô cười. Nụ cười nhẹ như gió mùa đầu đông.
Khánh bật cười theo. Một nụ cười rất khẽ giữa buổi chiều mưa lạnh. Sau này anh mới hiểu, có những cuộc gặp gỡ bắt đầu bình thường đến mức người ta không hề biết nó sẽ trở thành phần sâu nhất trong ký ức mình.
Khánh sinh ra ở một vùng quê ven sông Luộc của Thái Bình. Bố anh làm nghề đan chiếu, sau này chuyển sang bán chiếu dạo. Mẹ làm cán bộ hợp tác xã. Tuổi thơ của anh gắn với tiếng thoi dệt chiếu lách cách trong những buổi trưa hè oi ả, với tiếng quạt cũ quay lạch cạch mỗi đêm mất điện và những con đường làng phủ bụi trắng mỗi chiều tan học. Nhà nghèo, nên từ nhỏ Khánh đã quen với việc sống dè sẻn. Anh hiếm khi đòi hỏi điều gì cho riêng mình.
Ngày nhận giấy báo đỗ đại học, mẹ anh khóc rất lâu.
Còn bố chỉ ngồi lặng ngoài sân hút thuốc.
Mãi sau ông mới nói:
Khánh hiểu phía sau câu nói ngắn ngủi ấy là cả một đời hy vọng của cha mẹ gửi gắm vào mình. Vì vậy suốt những năm đại học, anh gần như chưa từng cho phép bản thân sống nhẹ nhõm.
Ban ngày đi học.
Tối làm thêm ở quán bia gần trường.
Cuối tuần nhận dạy gia sư kiếm tiền trọ.
Có những tháng cuối kỳ, anh sống bằng bánh mì không để tiết kiệm từng đồng.
Khánh học ngành Tự động hóa và Thiết bị điện một ngành vốn toàn sơ đồ kỹ thuật, bản mạch và những con số khô khan. Bạn bè trong lớp vẫn thường nghĩ anh là kiểu người chỉ biết học và làm việc. Nhưng chẳng ai biết trong balo anh lúc nào cũng có một cuốn sổ tay cũ màu nâu sẫm.
Trong lúc chờ xe buýt.
Trong giờ nghỉ hiếm hoi ở phòng thí nghiệm.
Hay những đêm thức trắng nơi hành lang ký túc xá.
Khánh lại lặng lẽ viết thơ.
Anh viết về Hà Nội mùa đông.
Viết về ánh đèn vàng trên phố cũ.
Viết về những chuyến xe cuối ngày.
Và nhiều nhất là viết về mùi hoa sữa mỗi độ thu sang.
Đôi khi chính anh cũng không hiểu vì sao một chàng trai học kỹ thuật như mình lại thích thơ đến vậy. Có lẽ bởi thơ là nơi duy nhất giúp anh được mềm yếu giữa cuộc sống quá nhiều áp lực.
Ngọc hoàn toàn khác anh. Cô là sinh viên khoa Văn của Đại học Sư phạm Hà Nội. Ở cô luôn có một vẻ dịu dàng khiến người khác vô thức muốn nói chuyện nhẹ hơn khi đứng cạnh.
Ngọc thích đọc sách. Thích mùi giấy cũ trong thư viện. Thích ngồi nhìn mưa hàng giờ không chán. Và đặc biệt thích những người có tâm hồn sâu sắc. Sau buổi trú mưa hôm ấy, họ bắt đầu quen nhau. Ban đầu chỉ là những buổi caffe với những câu nói vu vơ:
“Anh ăn cơm chưa?”
“Hôm nay em thi thế nào?”
“Bách Khoa nhiều bài tập lắm hả anh?”
Rồi từ lúc nào không biết, Khánh bắt đầu lấy cớ chạy ngang qua trường cô mỗi chiều. Từ Bách Khoa sang Sư phạm vốn chẳng thuận đường. Nhưng người trẻ khi yêu thường thích làm những điều vô nghĩa mà chính họ cũng không giải thích nổi. Chiếc xe đạp cũ màu xanh của anh quen dần với con phố Nguyễn Trãi đông nghịt giờ tan tầm. Chiều nào Ngọc bước ra khỏi cổng trường cũng thấy anh đứng đợi dưới hàng cây, tay cầm ly trà đá đã tan gần hết đá lạnh.
Thật ra anh thường đứng đợi gần nửa tiếng. Nhưng chưa bao giờ nói.
Một chiều nọ trong thư viện, Khánh để quên cuốn sổ tay trên bàn.
Ngọc cầm lên định chạy theo trả thì một tờ giấy kẹp giữa rơi xuống chân cô.
Đó là một bài thơ.
Tên bài thơ là Hoa Sữa.
Ngọc đọc rất chậm từng dòng chữ viết bằng nét bút hơi nghiêng của anh:
“Bởi lãng quên có hoa sữa trên đời
Nên giật mình với mùi thơm hoa sữa
Anh đứng đợi giữa chiều mưa rất nhỏ
Chạm mắt em rồi thương nhớ dài thêm...”
Khi Khánh quay lại tìm cuốn sổ, anh bắt gặp Ngọc vẫn còn cầm tờ giấy ấy trên tay. Anh lúng túng giật lại.
Ngọc nhìn anh thật lâu rồi lắc đầu.
Đó là lần đầu tiên Khánh thấy có người đọc thơ mình bằng ánh mắt nghiêm túc đến vậy. Từ hôm ấy, Ngọc trở thành độc giả duy nhất của đời anh. Mỗi lần hai người đi dạo quanh hồ Tây hay ngồi ở quán cà phê cũ ven đường Thanh Niên, Ngọc đều bắt anh đọc thơ. Khánh vốn ngại. Anh sợ thơ mình trẻ con, vụng về. Nhưng lần nào cô cũng chăm chú lắng nghe như thể đó là điều đẹp nhất mình từng được nghe.
Ngọc thích nhất bài Hoa Sữa. Mỗi lần mùa thu về, hương hoa sữa tràn qua những con phố Hà Nội, cô lại khe khẽ đọc thuộc lòng vài câu thơ của anh. Có lần cả hai dừng xe dưới một hàng hoa sữa rất lớn ở đường Nguyễn Du. Đêm ấy gió lạnh đầu mùa tràn qua từng con phố. Hương hoa nồng nàn đến nao lòng.
Ngọc tựa đầu lên vai anh rồi hỏi:
Khánh cười khẽ.
Ngọc im lặng vài giây rồi nói nhỏ:
Rồi cô khe khẽ đọc:
“Hoa sữa thơm đến chừng như khó thở
Bởi vô tri cũng tỏa ngát hương đời…”
Giọng cô tan vào gió lạnh đầu đông. Khoảnh khắc ấy, Khánh chợt thấy lòng mình mềm đi lạ lùng. Anh chưa từng nghĩ sẽ có một người nhớ thơ mình nhiều đến thế. Tình yêu thời sinh viên của họ giản dị đến mức nhiều năm sau nhớ lại, Khánh vẫn thấy tim mình đau âm ỉ. Những buổi hẹn hò chỉ là quán trà đá ven hồ Tây, một gói hướng dương và vài câu chuyện không đầu không cuối. Có hôm cuối tháng, trong túi Khánh chỉ còn vài chục nghìn. Anh ngại ngùng bảo:
Ngọc cười rất tươi.
Hai người ngồi trong căn phòng trọ chưa đầy mười mét vuông của anh, chia nhau nồi mì nghi ngút khói. Ngoài trời mưa lộp bộp trên mái tôn cũ.
Ngọc chống cằm nhìn anh thật lâu rồi nói:
Khánh bật cười.
Ngọc gật đầu.
Khánh im lặng rất lâu rồi mới khẽ đáp:
Ngọc nhìn anh bằng đôi mắt trong veo như mặt hồ mùa thu. Có những điều khi còn trẻ người ta tin là thật suốt đời. Chỉ đến nhiều năm sau mới hiểu, tình yêu đôi khi không mất đi vì hết thương, mà vì cuộc sống đã khiến con người ta đổi khác.
Rồi họ tốt nghiệp. Khánh được nhận vào một công ty công nghệ lớn giữa Hà Nội. Ngày đầu tiên đi làm, anh đứng rất lâu trước tòa nhà kính cao vút giữa trung tâm thành phố. Anh từng nghĩ chỉ cần cố gắng thêm một chút nữa thôi, tương lai của cả hai sẽ tốt đẹp hơn.
Anh muốn mua nhà.
Muốn cưới Ngọc.
Muốn cho cô một cuộc sống đủ đầy.
Vậy nên anh lao vào công việc như một kẻ liều mạng.
Sáng đi từ sớm.
Đêm về khi phố đã ngủ.
Những cuộc họp nối tiếp nhau.
Những dự án kéo dài bất tận.
Có những đêm Ngọc gọi cho anh lúc gần nửa đêm, đầu dây bên kia chỉ nghe tiếng gõ bàn phím và giọng anh mệt mỏi:
Nhưng rồi hôm sau anh lại quên mất. Còn Ngọc trở thành giáo viên cấp ba ở một trường ngoại thành. Công việc của cô nhẹ nhàng hơn anh, nhưng lại có quá nhiều khoảng trống để nhớ, để chờ và để buồn. Có những tối cô đứng trước cổng công ty anh gần cả tiếng đồng hồ chỉ để gặp anh vài phút rồi lại lặng lẽ bắt xe về.
Nhưng cô chưa từng trách. Vì cô hiểu anh đang cố gắng cho tương lai của họ.
Chỉ là cô không biết có những thứ mất đi rất chậm, chậm đến mức người ta không nhận ra cho tới khi mọi thứ đã quá muộn. Một tối trời mưa rất lớn, Ngọc đứng dưới mái hiên trước công ty anh, tay ôm chiếc bánh kem nhỏ. Hôm ấy là sinh nhật Khánh. Khi anh bước ra khỏi tòa nhà với gương mặt mệt mỏi và chiếc điện thoại vẫn sáng đèn vì công việc, Ngọc bỗng thấy khoảng cách giữa hai người xa đến lạ.
Khánh giật mình:
Ngọc cười rất nhẹ.
Câu nói ấy khiến tim Khánh nhói lên. Nhưng rồi anh vẫn im lặng. Anh không biết rằng có những tổn thương bắt đầu từ chính sự im lặng ấy.
Khoảng cách giữa họ lớn dần theo năm tháng.
Tin nhắn ít hơn. Những cuộc gọi ngắn hơn. Có những tối ngồi cạnh nhau trong quán cà phê cũ, cả hai đều không biết phải nói gì.
Một lần Ngọc hỏi:
Khánh im lặng rất lâu. Sự im lặng ấy khiến mắt cô buồn đi. Thật ra anh vẫn yêu cô. Rất yêu. Chỉ là cuộc sống đã bào mòn anh đến mức chẳng còn đủ sức dịu dàng như trước nữa. Họ chia tay vào một chiều cuối thu. Hà Nội lại đầy mùi hoa sữa. Quán cà phê cũ vẫn bật bản nhạc năm nào. Ngoài cửa kính, mưa phùn giăng kín phố. Ngọc ngồi đối diện anh, gầy hơn trước rất nhiều. Khánh muốn nói điều gì đó. Muốn giữ cô lại. Muốn ôm cô như những ngày còn là sinh viên nghèo chạy xe giữa đêm lạnh. Nhưng cuối cùng lại bất lực ngồi im.
Ngọc hỏi rất khẽ:
Khánh cúi đầu.
Rất lâu sau mới đáp:
Chỉ một chữ thôi cũng đủ khiến mắt cô đỏ hoe. Bởi điều đau lòng nhất không phải là không còn yêu, mà là vẫn còn thương nhau rất nhiều nhưng không thể tiếp tục nữa. Trước khi rời đi, Ngọc đặt lên bàn cuốn sổ thơ cũ anh từng cho cô mượn.
Trong trang cuối cùng, cô viết: “Em từng nghĩ người viết thơ dịu dàng như anh sẽ không làm ai buồn. Nhưng hóa ra người khiến em đau nhất cũng là anh.”
Khánh ngồi lặng rất lâu sau khi cô rời khỏi. Ngoài phố, hương hoa sữa vẫn tràn qua ô cửa kính như mùa thu năm nào họ còn trẻ.
Nhiều năm sau, Khánh vẫn sống ở Hà Nội. Anh có mức lương mà ngày sinh viên chưa từng dám nghĩ tới. Có căn hộ riêng giữa thành phố rộng lớn. Nhưng càng trưởng thành anh càng thấy lòng mình trống trải. Có những đêm đi ngang hồ Tây, anh lại nhớ Ngọc đến nghẹn lòng. Nhớ cô gái từng ngồi ăn bánh mỳ với anh những ngày cuối tháng. Từng ôm eo anh trên chiếc xe cũ giữa phố mùa đông. Từng ngồi nghe anh đọc thơ bằng ánh mắt dịu dàng nhất tuổi trẻ. Và từng thuộc lòng bài Hoa Sữa hơn cả chính tác giả của nó. Một tối cuối thu, Khánh đứng rất lâu dưới con đường đầy hoa sữa gần trường Sư phạm cũ. Hương hoa vẫn giống hệt năm ấy. Chỉ là người con gái từng mê thơ anh nhất đã không còn đứng cạnh anh nữa. Người ta rồi cũng trưởng thành. Rồi cũng học cách sống cùng những điều dang dở. Nhưng có những người, dù đã rời xa rất lâu, vẫn nằm lại trong ký ức như một mùa cũ không thể gọi tên. Và có lẽ suốt cuộc đời này, Khánh sẽ không bao giờ quên được cô gái từng yêu thơ anh hơn cả chính anh yêu bản thân mình.
NGƯỜI CON GÁI YÊU THƠ
(Truyện ngắn - Hoàng Thanh)
Mùa đông năm ấy Hà Nội rét như một câu thơ cũ. Cái rét len qua những mái ngói phủ rêu, len qua ô cửa ký túc xá cong vênh gió lùa, len vào từng kẽ tay nứt nẻ của đám sinh viên tỉnh lẻ mang theo trong người mùi bùn đất ruộng đồng và nỗi nhớ quê chưa kịp nguôi ngoai. Những ngày ấy, thành phố dường như lúc nào cũng phủ một màu xám bạc. Buổi sáng có sương. Buổi chiều có mưa phùn. Đêm xuống, gió mùa thổi dọc những hành lang hun hút nghe như tiếng ai thở dài trong bóng tối.
Anh sống ở tầng ba khu ký túc xá cũ phía sau trường đại học Bách khoa. Căn phòng tám người. Những chiếc giường tầng bằng sắt cũ kỹ lâu ngày bong sơn. Mỗi lần ai trở mình, cái giường lại kêu lên những tiếng cót két mỏi mệt như tiếng thời gian đang già đi giữa tuổi trẻ nghèo khó. Đêm mùa đông, gió lùa qua khe cửa lạnh đến mức nhiều hôm anh thức trắng, nằm co ro trong chiếc chăn mỏng nghe tiếng còi tàu vọng từ ga Hàng Cỏ mà thấy lòng mình buồn như một chuyến đi xa không biết ngày trở lại.
Anh học ngành chế tạo máy. Một ngành học khô khan với những bản vẽ kỹ thuật, những con ốc, bánh răng và mùi dầu mỡ. Bạn bè anh phần lớn đều là những chàng trai ít nói. Ban ngày cắm cúi trong xưởng thực hành. Ban đêm ôm giáo trình ngủ gục bên bàn học. Người ta thường nghĩ những sinh viên kỹ thuật thì chỉ biết đến máy móc. Nhưng chẳng hiểu sao giữa đám sắt thép khô cằn ấy, anh lại mang trong lòng một thế giới rất khác.
Anh làm thơ.
Làm thơ trên mép vở.
Làm thơ sau lưng những tờ giấy kiểm tra.
Làm thơ giữa tiếng gió mùa hun hút ngoài hành lang.
Làm thơ trong những đêm đói đến cồn ruột mà không ngủ được.
Thơ của anh buồn. Một nỗi buồn rất quê.
Buồn như tiếng mẹ ho trong đêm trở gió.
Buồn như mùi rạ ướt sau cơn mưa tháng chạp.
Buồn như bóng người đàn bà đứng cuối ngõ nhìn theo chuyến xe khách cuối làng khi chiều xuống.
Có lần anh viết:
“Đêm Hà Nội nghe gió mùa qua cửa
Tôi giật mình như tiếng mẹ ho quê…”
Viết xong, anh gấp cuốn sổ lại rồi lặng lẽ bỏ vào ngăn bàn.
Không gửi báo.
Không khoe ai.
Bởi với anh, thơ khi ấy không phải để nổi tiếng. Thơ chỉ là nơi trú ẩn cuối cùng cho một tâm hồn quá cô đơn giữa thành phố rộng lớn này. Ban ngày anh đi học. Ban đêm đạp chiếc xe cà tàng ra chợ Trời bán hàng kiếm thêm tiền sống. Vài cây bút cũ. Mấy quyển sách cũ. Ít thuốc lá lẻ. Có hôm anh theo xe hàng về tận Hải Dương lấy đồ rồi đạp xe ngược ra Hà Nội giữa đêm đông. Phía sau là túi hàng cũ kỹ buộc bằng sợi dây dù bạc màu. Gió sông Hồng thổi buốt tận xương. Anh đi qua cầu Long Biên mà nghe tiếng bánh xe nghiến trên mặt cầu sắt như tiếng đời mình lầm lũi đi trong sương.
Nghèo thật ra không đáng sợ bằng cô đơn. Có những tối trở về ký túc xá, nhìn ánh đèn vàng hiu hắt cuối hành lang, anh bỗng nhớ quê đến quặn lòng. Nhớ tiếng mẹ nhóm bếp. Nhớ mùi khói rơm quẩn quanh mái bếp cũ. Nhớ cái ao bèo sau nhà có tiếng ếch kêu mùa hạ. Nhớ cây gạo đầu làng mỗi tháng ba đỏ rực như một đốm lửa cháy giữa trời quê. Con người lạ lắm. Lúc còn ở quê thì chỉ muốn đi thật xa. Nhưng khi đi xa rồi, điều làm người ta đau nhất lại là những điều rất nhỏ ngày xưa từng nghĩ quá đỗi bình thường.
Anh gặp cô vào một chiều cuối đông có mưa phùn. Hôm ấy thư viện vắng. Ngoài trời, những hạt mưa nhỏ bay nghiêng qua ô cửa kính mờ hơi nước. Anh ngồi ở góc cuối phòng đọc, cúi đầu chép lại mấy câu thơ vừa nghĩ ra trên mép cuốn giáo trình Cơ học kết cấu.
Đang viết thì có người đứng trước mặt.
Anh ngẩng lên.
Một cô gái mặc áo len màu nâu nhạt. Quàng chiếc khăn len xanh đậm. Mái tóc dài còn vương vài giọt mưa. Gương mặt cô không sắc sảo nhưng có một nét dịu dàng khiến người khác nhìn rồi khó quên. Đôi mắt cô buồn như mặt sông mùa đông.
Cô nhìn anh hồi lâu rồi hỏi rất khẽ:
- Có phải anh là người viết bài “Toong teng” không?
Anh sững lại.
Đó là lần đầu tiên trong đời có người tìm đến anh vì thơ. Vì những câu thơ buồn anh từng viết lúc mười tám tuổi.
Anh cười:
- Sao em biết?
Cô không trả lời ngay. Chỉ lặng lẽ mở chiếc túi vải cũ rồi lấy ra một cuốn sổ màu xanh đã sờn góc. Trong cuốn sổ ấy, bằng nét chữ mềm và tròn của con gái, là những bài thơ anh từng viết.
Cô lật đến một trang rồi đọc khe khẽ:
“Trái tim em để ngoài tai…”
Giọng cô nhỏ như hơi gió.
Nhưng không hiểu sao lúc ấy anh thấy trong lòng mình có điều gì vừa rung lên rất khẽ. Ngoài kia mưa vẫn rơi. Còn trong lòng anh, một mùa khác dường như vừa bắt đầu.
Cô là sinh viên Sư phạm. Quê Nam Định. Mẹ bán hàng ngoài chợ nuôi hai chị em ăn học. Có lẽ vì đều là những đứa trẻ rời quê lên thành phố bằng những đồng tiền nhọc nhằn của mẹ nên họ hiểu nhau rất nhanh. Không cần nhiều lời. Chỉ vài câu chuyện về quê nhà cũng đủ khiến hai tâm hồn xích lại gần nhau giữa Hà Nội mịt mù gió lạnh.
Sau này anh mới biết, cô đã đọc thơ anh từ rất lâu.
Một lần tình cờ nhìn thấy bài thơ chép trên tờ báo tường ký túc xá, cô đã ngồi chép lại vào sổ.
Rồi từ bài thơ này sang bài thơ khác.
Cô thuộc thơ anh nhiều hơn cả chính anh.
Có lần anh hỏi:
- Sao em nhớ được nhiều thế?
Cô cười:
- Vì em thấy trong thơ anh có quê nhà. Có hình ảnh của mẹ em ở đó.
Anh im lặng. Đó là câu nói khiến anh nhớ suốt cả đời. Bởi từ ngày rời quê lên Hà Nội, anh luôn có cảm giác mình như một người bị bật rễ khỏi đất. Ban ngày cười nói giữa phố đông nhưng đêm xuống lại thấy lòng trôi dạt như bèo nước. Vậy mà cô gái ấy lại tìm thấy quê hương trong những câu thơ anh viết giữa cô đơn.
Tình yêu của họ bắt đầu rất chậm.
Chậm như mưa phùn Hà Nội.
Không có hoa hồng.
Không có những lời tỏ tình ồn ào.
Chỉ là những chiều cùng nhau đi bộ quanh hồ Tây.
Những tối ngồi ở hành lang ký túc nghe gió mùa.
Những cốc trà nóng uống chung cuối tháng hết tiền.
Những củ khoai nướng chia đôi giữa đêm rét.
Những lần cô đứng dưới gốc xà cừ cũ chờ anh tan học chỉ để đưa một chiếc bánh mì nóng còn thơm mùi bơ. Có hôm trời rét quá, cô lấy từ túi áo ra đôi găng tay len cũ.
- Em đan đấy… Anh đi ban đêm cho đỡ lạnh.
Anh cầm đôi găng tay mà thấy sống mũi cay cay.
Cả đời anh chưa từng được ai thương bằng những điều nhỏ như thế. Người ta thường nghĩ tình yêu phải là điều gì lớn lao. Nhưng thật ra, tình yêu nhiều khi chỉ là giữa mùa đông có một người âm thầm nhớ tay mình lạnh. Có một người chép từng câu thơ buồn của mình vào sổ. Có một người tin rằng mình sẽ không bị cuộc đời làm cho khô cằn. Những năm tháng ấy họ nghèo lắm. Có những ngày hai đứa chia nhau một ổ bánh mì và cốc trà nóng rồi cười như thể vừa có một bữa ăn ngon. Có hôm đi qua phố Nguyễn Du, thấy người ta bán hoa sữa, cô đứng lại rất lâu.
- Em thích mùi này…
Anh nhìn hàng cây đang rụng hoa trong gió rồi khẽ đọc:
“Bởi lãng quên có hoa sữa trên đời
Nên giật mình với mùi thơm hoa sữa…”
Cô cười.
Nụ cười nhẹ như sương khói.
Rồi nói rất khẽ:
- Sau này nếu anh nổi tiếng nhớ vẫn viết những câu buồn như thế nhé.
Anh bật cười:
- Anh chỉ sợ sau này mình không còn biết buồn nữa thôi.
Cô nhìn anh rất lâu. Ánh mắt buồn đến lạ. Nhiều năm sau anh mới hiểu, điều đáng sợ nhất không phải con người già đi. Mà là tâm hồn mình khô đi giữa cơm áo. Rồi cuộc đời bắt đầu kéo họ về hai phía.
Anh vào Sài Gòn lập nghiệp. Ngày tiễn anh ở ga Hà Nội, trời mưa phùn trắng lối. Cô đứng dưới mái hiên ga, ôm chồng sách cũ vào ngực. Mắt đỏ hoe nhưng không khóc. Cô chỉ lặng lẽ đưa anh cuốn sổ màu xanh năm nào.
Trong đó chép đầy thơ anh.
Trang cuối cùng cô viết:
“Nếu một ngày mệt quá…
anh nhớ quay về làm thơ nhé.”
Chuyến tàu chuyển bánh. Anh nhìn cô nhỏ dần phía sau ô cửa kính mờ nước mưa. Khoảnh khắc ấy, anh bỗng hiểu có những người bước vào đời mình không phải để làm mình hạnh phúc. Mà để giữ cho phần người dịu dàng nhất trong mình không bị cuộc đời lấy mất. Nhiều năm sau, giữa một đêm Sài Gòn nhiều mưa, anh mở lại cuốn sổ cũ.
Những trang giấy đã úa màu.
Nét mực xanh cũng nhòe đi theo năm tháng.
Ngoài kia thành phố vẫn sáng rực.
Dòng người vẫn lao đi như chưa từng biết mỏi mệt.
Còn anh ngồi lặng giữa căn phòng khuya, nghe trong lòng mình vọng lại tiếng gió mùa Hà Nội năm nào.
Tiếng gió đi qua hành lang ký túc.
Tiếng mưa phùn ngoài ô cửa kính.
Và giọng cô gái Nam Định đọc thơ anh rất khẽ:
“Có những đêm nghe gió mùa qua cửa
Tôi giật mình như tiếng mẹ ho quê…”
Đến tận lúc ấy anh mới hiểu:
Trong đời người, có thể gặp rất nhiều người đẹp. Cũng có thể gặp rất nhiều người tử tế. Nhưng người yêu cả những câu thơ buồn của mình. Yêu cả phần cô đơn, mong manh và nhiều vết thương nhất trong tâm hồn mình. Thì đôi khi cả đời chỉ gặp được một lần. Có những cuộc gặp gỡ chỉ là thoáng qua. Nhưng cũng có những người, vừa xuất hiện đã khiến trái tim mình rung động cả một đời. Và em chính là điều dịu dàng đẹp nhất mà anh từng may mắn gặp được.
LÀNG XỨ THANH
(Truyện ngắn - Hoàng Thanh)
Bây giờ, mỗi lần đi qua những cánh đồng quê xứ Thanh xanh rờn máy gặt, nhìn những con đường bê tông chạy dài qua bãi sông Mã, nhiều người trẻ khó hình dung được rằng nơi đây từng có một thời nghèo đến quặn lòng. Một thời mà cả làng sống trong bóng tối leo lét của đèn dầu. Một thời mà cái đói không chỉ nằm trong bụng người, mà còn nằm trong ánh mắt, trong giọng nói, trong cả những giấc mơ còm cõi của một thế hệ.
Ấy là đầu những năm tám mươi của thế kỹ trước. Những năm tháng hợp tác xã còn siết chặt đời sống người dân quê bằng cơ chế tem phiếu, công điểm và đủ thứ ràng buộc kéo dài như một màn sương xám phủ lên làng mạc ven sông Chu, sông Mã. Ngày ấy, cả làng gần như sống theo tiếng kẻng hợp tác. Sáng tinh mơ, khi gà còn chưa gáy canh cuối, tiếng kẻng đã leng keng vang lên từ đầu xóm. Tiếng kẻng khô và lạnh, vang trong màn sương mùa đông nghe như tiếng kim loại gõ vào lòng người. Đàn bà quấn khăn nâu, khoác áo bông vá vai, gánh phân ra đồng. Đàn ông vác cuốc, vác mai đi đào mương, be bờ, cấy lúa. Lũ trẻ con ngủ dở giấc đã bị gọi dậy chăn trâu hoặc đi mót khoai ngoài bãi. Người dân quê thời ấy gần như không có khái niệm làm cho riêng mình.
Ruộng là của tập thể.
Trâu bò là của tập thể.
Máy bơm nước là của tập thể.
Lúa thu hoạch cũng phải nhập kho hợp tác trước rồi cuối vụ mới chia lại theo công điểm. Một người làm cả ngày quần quật ngoài đồng có khi chỉ được mười công. Cuối năm tính ra vài lạng thóc một công. Có những gia đình sáu bảy miệng ăn mà số thóc chia về chỉ đủ vài tháng. Những tháng còn lại phải sống bằng khoai, bằng sắn, bằng bo bo cứu đói. Cái đói thời ấy dai dẳng như mưa phùn tháng chạp. Nó không đến ào ạt như bão tố. Nó âm thầm gặm nhấm con người từng ngày. Trẻ con xứ Thanh khi ấy nhiều đứa bụng ỏng, tóc hoe vàng vì thiếu ăn. Đôi chân nứt nẻ quanh năm vì rét và vì không có dép. Có những đêm mùa đông, cả nhà quây quanh nồi cháo loãng mà trong nồi nước nhiều hơn gạo.
Người mẹ thường lặng lẽ vớt phần đặc cho con nhỏ.
Người cha cầm bát cháo toàn nước vẫn cười gượng cha ăn quen rồi. Cái nghèo nhiều khi làm con người ta không còn biết xấu hổ nữa.
Người dân quê thời ấy quý gạo như quý máu.
Mỗi gia đình cán bộ công chức đều có một cuốn sổ lương thực. Cuốn sổ nhỏ, giấy vàng úa, mép mềm đi vì mồ hôi tay và những lần mở ra đóng vào quá nhiều. Trong ấy ghi tiêu chuẩn gạo từng người. Muốn mua gạo phải mang sổ ra cửa hàng mậu dịch. Không có sổ thì có tiền cũng không mua được. Có những buổi sáng rét cắt da, người ta đã đội mưa đứng xếp hàng từ lúc trời còn tối om. Ai cũng ôm chặt cuốn sổ gạo trong ngực áo như ôm sinh mạng cả gia đình. Đến trưa mới tới lượt thì cửa hàng báo hết gạo chỉ còn bo bo.
Hoặc ít bột mì mốc vàng.
Người đàn bà quê đứng lặng hồi lâu rồi lặng lẽ quay về, chiếc làn cói va vào đầu gối theo từng bước chân mệt mỏi. Có người đánh rơi sổ gạo giữa đường. Về đến nhà mới phát hiện, người mẹ cuống cuồng chạy ngược chạy xuôi tìm trong tuyệt vọng.
Mưa phùn quất trắng mặt.
Con đường làng lầy nhão bùn đất.
Đến tối vẫn không thấy.
Đêm ấy cả nhà không ai ngủ được.
Người mẹ ngồi dưới ánh đèn dầu mà khóc tức tưởi như vừa làm mất thứ quý giá nhất đời mình. Bởi mất sổ gạo đồng nghĩa với việc cả nhà có thể thiếu ăn hàng tháng trời. Muốn cấp lại phải lên xã xác nhận, chờ xét duyệt rất lâu. Trong thời gian ấy chỉ biết đi vay gạo hàng xóm cầm hơi. Nhưng hàng xóm cũng nghèo. Có khi cho nhau vay chỉ một lon gạo nhỏ mà nghĩa tình nặng như núi.
Thời ấy còn có chuyện “ngăn sông cấm chợ”.
Người dân không được tự do mua bán. Mang vài chục cân gạo sang huyện khác cũng có thể bị giữ lại kiểm tra. Những chuyến tàu đêm từ Thanh Hóa vào Nam thường chở theo những người đàn bà gầy guộc, áo bông bạc màu, lặng lẽ ôm túi gạo giấu dưới đáy thúng. Họ đi như những kẻ chạy trốn. Qua mỗi trạm kiểm soát là một lần tim đập thình thịch. Có người bị tịch thu sạch hàng hóa giữa ga tàu mà ngồi ôm mặt khóc lặng.
Khóc không chỉ vì mất gạo.
Mà vì mất luôn hy vọng nuôi đàn con đang đói ở nhà.
Ở quê, muốn mổ một con lợn cũng không đơn giản. Con lợn thời ấy là cả gia sản. Người dân nuôi bằng bèo, bằng cám, bằng thân chuối thái nhỏ. Nuôi suốt cả năm chỉ mong Tết có chút thịt cho con. Nhưng muốn mổ phải xin phép HTX. Không xin mà mổ lén có thể bị kiểm điểm giữa làng. Vì thế nhiều nhà thường đợi nửa đêm mới làm thịt. Không dám bật đèn sáng. Không dám cười nói to.
Tiếng dao chạm vào máng gỗ cũng ghìm xuống thật nhẹ. Có nhà vừa cắt tiết lợn xong đã thấp thỏm nhìn ra ngõ vì sợ đội kiểm tra đi qua. Mỗi nhà được chia vài lạng thịt rồi vội vàng bọc lá chuối mang về trước lúc trời sáng. Nhưng điều ám ảnh nhất của làng quê thời ấy không chỉ là cái đói. Mà là sự bất lực. Người dân làm rất nhiều mà vẫn nghèo. Họ nhìn những thửa ruộng HTX rộng mênh mông mà lúa thưa thớt, cỏ mọc um tùm. Trong khi mảnh ruộng “năm phần trăm” nhỏ xíu của mỗi nhà lại xanh rờn. Ruộng năm phần trăm là phần đất hợp tác giao cho dân tự làm thêm để cải thiện đời sống. Chỉ vài thước đất thôi. Nhưng người dân chăm chút nó như chăm chính số phận mình. Người mẹ đi làm đồng tập thể cả ngày, tối về vẫn xách đèn dầu ra ruộng năm phần trăm bắt sâu. Người cha thức khuya tát nước giữ lúa. Đứa con nhỏ đi học về cũng tranh thủ nhổ cỏ. Và kỳ lạ thay, lúa ở đó luôn chắc hạt hơn. Một sào ruộng năm phần trăm nhiều khi cho sản lượng còn hơn mấy sào ruộng HTX cộng lại.
Dân quê ai cũng thấy điều ấy. Nhưng chỉ nói với nhau rất khẽ.
Có lão nông ngồi bên bờ ruộng, rít hơi thuốc lào rồi thở dài:
“Đất cũng như người thôi phải thật lòng với nó thì nó mới nuôi mình.”
Câu nói ấy sau này nhiều người nhớ mãi. Bởi nó không chỉ nói chuyện đồng ruộng. Mà nói cả thân phận con người trong những năm tháng ấy. Đêm làng quê xứ Thanh thời bao cấp buồn đến nao lòng. Không có ánh đèn neon. Không có quán xá ồn ào. Chỉ có tiếng chó sủa vọng qua hàng tre. Tiếng gió bấc hun hút ngoài triền sông Mã. Tiếng ho khan của người già trong đêm lạnh. Và đâu đó, dưới ánh đèn dầu leo lét, người mẹ quê vẫn ngồi vá áo cho con.
Bàn tay gầy guộc của bà run lên trong ánh sáng vàng đục.
Đứa con ngủ say trên chõng tre, bụng lép kẹp sau bữa cơm độn sắn.
Ngoài hiên, khói rạ bay là là trong gió. Mỏng manh. Hiu hắt. Như chính đời sống của người dân quê Việt Nam một thời.
Rồi Đổi mới đến.
Ruộng đất được giao về từng hộ. Người dân bắt đầu được làm chủ trên mảnh đất của mình. Những cánh đồng dần xanh hơn. Những phiên chợ quê đông hơn. Tiếng cười cũng nhiều hơn. Nhưng những đêm làng quê Thanh Hóa thời bao cấp thì mãi mãi chỉ còn trong ký ức. Một miền ký ức nghèo khó nhưng đầy tình người. Để nhiều năm sau, khi đi qua gần hết một đời người, người ta vẫn nhớ như in ánh đèn dầu leo lét, cuốn sổ gạo mềm vì mồ hôi tay mẹ, tiếng kẻng HTX trong sương sớm và những thửa ruộng năm phần trăm xanh rờn giữa cánh đồng tập thể xác xơ. Nhớ để hiểu rằng đã có một thời người dân quê Việt Nam sống cơ cực đến thế. Và cũng đã có một thời, giữa tận cùng nghèo khó, con người vẫn thương nhau bằng tất cả sự tử tế còn sót lại trong lòng mình. Sau ngày đổi mới, làng quê xứ Thanh như khoác lên mình một tấm áo mới. Những con đường đất lầy lội ngày nào dần được thay bằng đường bê tông phẳng phiu, nối liền xóm nhỏ với phố huyện, nối những ước mơ bình dị của người dân với nhịp sống hiện đại.
Trên những cánh đồng, tiếng máy cày, máy gặt vang lên thay cho tiếng trâu kéo cày nhọc nhằn. Người nông dân không chỉ biết “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” mà còn biết áp dụng khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, làm kinh tế trang trại, phát triển nghề phụ. Nhiều làng quê ven sông Mã, sông Chu đã có những mô hình sản xuất mới, mang lại thu nhập ổn định hơn cho người dân. Nhà cửa trong làng cũng đổi thay từng ngày. Những mái tranh vách đất thưa dần, thay vào đó là những ngôi nhà tầng khang trang, cổng ngõ sạch đẹp. Điện sáng về từng thôn xóm, tiếng tivi, tiếng loa truyền thanh, tiếng trẻ em học bài vang lên trong mỗi nếp nhà. Trường học, trạm y tế, nhà văn hóa được xây dựng khang trang hơn, đời sống tinh thần của người dân ngày càng phong phú.
Tuy vậy, giữa bao đổi thay, hồn quê xứ Thanh vẫn được gìn giữ. Vẫn còn đó tiếng nói mộc mạc, nghĩa tình làng xóm, những phiên chợ quê, những lễ hội truyền thống, những câu hò sông Mã ngân vang trong ký ức. Người dân xứ Thanh dù đi đâu, làm gì vẫn luôn mang trong mình sự cần cù, chịu thương chịu khó và lòng tự hào về quê hương. Làng quê xứ Thanh sau ngày đổi mới không chỉ thay đổi về diện mạo mà còn chuyển mình trong tư duy, trong khát vọng vươn lên. Từ những miền quê còn nhiều gian khó, hôm nay đã hiện lên hình ảnh một vùng đất giàu sức sống, đang từng bước hòa vào dòng chảy phát triển của đất nước nhưng vẫn giữ trọn nét chân quê đằm thắm, nghĩa tình.
CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ & THIẾT KẾ XÂY DỰNG MINH PHƯƠNG
Địa chỉ: 28B Mai Thị Lựu - Khu phố 7, Phường Tân Định, TP.HCM
Hotline: 0903 649 782 - 028 3514 6426
Email: nguyenthanhmp156@gmail.com ,
Website: www.minhphuongcorp.com
Gửi bình luận của bạn